Đầu tư công là gì? Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế Việt Nam?

dau-tu-cong-la-gi

Đầu tư công là gì? Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế Việt Nam? Quy định về nguyên tắc, nội dung  hình thức quản lý đầu tư công hiện nay. Một số giải pháp giúp hoạt động đầu tư công hiệu quả.

Đầu tư công-một dự án đầu tư đã được diễn ra ở nước ta từ nhiều năm. Tuy, hiện nay với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng mạnh, hoạt động đầu tư đã có nhiều hình thức hơn so sánh với trước đây mặc dù vậy hoạt động đầu tư công luôn có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Vậy, đầu tư công là gì? Vai trò của hoạt động đầu tư công đối với nền kinh tế Việt Nam. bài viết phía dưới đây mong rằng có thể giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề nêu trên.

1. Đầu tư công là gì?

dau-tu-tai-chinh-la-gi-1

Khái niệm đầu tư công được quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật đầu tư công năm 2019: “15. Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án  đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này.”

Như vậy, đầu tư công là một hoạt động đầu tư của Nhà nước, dùng nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách Nhà nước để thực hiện thiết kế, xây dựng các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội  các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

2. Một số quy định về đầu tư công hiện nay

Nguyên tắc quản lý đầu tư công

  • Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý  dùng số tiền đầu tư công.
  • thích hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm của quốc gia & quy hoạch xoay quanh theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
  • Thực hiện đúng trách nhiệm  quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý & dùng số tiền đầu tư công.
  • Quản lý việc dùng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả  năng lực cân đối nguồn lực; không để thất thoát, phung phí.
  • Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công.

dau-tu-tai-chinh-1

Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư công

– Ban hành & tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công.

– Xây dựng  tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạchphương án, chính sách đầu tư công.

– Theo dõi, cung cấp tất cả thông tin quản lý & sử dụng số tiền đầu tư công.

– Nhận định hiệu quả đầu tư công; kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện quy định của pháp luật về đầu tư công, việc tuân thủ chiến lược đầu tư công.

– Xử lý phạm luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công.

– Khen thưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động đầu tư công.

– Cộng tác quốc tế về đầu tư công.

Công khai, minh bạch trong đầu tư công

Nội dung công khai, minh bạch trong đầu tư công bao gồm:

  • Chính sách, pháp luật  việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý & sử dụng vốn đầu tư công;
  • Nguyên tắc, tiêu chí & định mức bố trí vốn đầu tư công;
  • Nguyên tắc, tiêu chí, căn cứ xác định danh mục dự án trong chiến lược đầu tư công trung hạn  hằng năm;
  • Chiến lược, chương trình đầu tư công trên địa bàn; vốn bố trí cho từng chương trình theo từng năm, tiến độ thực hiện  giải ngân vốn chương trình đầu tư công;
  • Danh mục dự án trên địa bàn, bao gồm quy mô, tổng mức đầu tư, thời gian, địa điểm; báo cáo đánh giá tác động tổng thể của dự án tới địa bàn đầu tư;
  • Kế hoạch phân bổ số tiền đầu tư công trung hạn & hằng năm, gồm có danh mục dự án  mức vốn đầu tư đưa rõ ra trí cho từng dự án;
  • Tình hình huy động các nguồn lực & nguồn vốn khác tham gia thực hiện dự án đầu tư công;
  • Tình hình  kết quả thực hiện chiến lược, chương trình, dự án;
  • Tiến độ thực hiện & giải ngân của dự án;
  • Kết quả nghiệm thu, nhận xét chương trình, dự án;
  • Quyết toán số tiền đầu tư công.

Lưu ý: lãnh đạo cấp cao cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện việc công khai các nội dung đầu tư công theo quy định của pháp luật.

dau-tu-cong

Các hành vi bị cấm trong đầu tư công

– Quyết định chủ trương đầu tư không thích hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn & khả năng cân đối vốn; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

– Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc không đúng với các nội dung về mục tiêu, phạm vi, quy mô, vượt tổng vốn đầu tư của chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Quyết định điều chỉnh tổng vốn đầu tư của chương trình, tổng mức đầu tư của dự án trái với quy định của pháp luật về đầu tư công.

– Lợi dụng chức phận, quyền hạn để chiếm đoạt, vụ lợi, tham nhũng trong quản lý & sử dụng số tiền đầu tư công.

– Chủ chương trình, chủ đầu tư thông đồng với tổ chức tư vấn, nhà thầu dẫn tới quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án gây thất thoát, phung phí vốn, tài sản của Nhà nước, tài nguyên của quốc gia; làm tổn hại, xâm phạm ích lợi hợp pháp của công dân & của cộng đồng.

– Đưa, nhận, môi giới hối lộ.

– Yêu cầu tổ chức, cá nhân tự bỏ số tiền đầu tư khi chương trình, dự án chưa được quyết định chủ trương đầu tư, chưa được phê duyệt, gây nợ đọng xây dựng cơ bản.

– Sử dụng số tiền đầu tư công không đúng mục tiêu, không đúng đối tượng, vượt chuẩn mực, định mức theo quy định của pháp luật.

– Làm giả, làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu, liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương trình, dự án.

– Cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trung thực, không khách quan ảnh hưởng đến việc lập, thẩm định, quyết định kế hoạch, chương trình, dự án, theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra & xử lý vi phạm trong khai triển thực hiện chiến lược, chương trình, dự án.

– Cố ý hủy hoại, lừa dối, che giấu hoặc lưu trữ không phong phú tài liệu, chứng từ, hồ sơ liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, khai triển thực hiện chương trình, dự án.

– Cản trở việc phát hiện hành vi phạm luật về đầu tư công.

3. Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế Việt Nam

dau-tu-cong

Từ lâu, người ta đã mặc định rằng đẩy mạnh đầu tư công chính là động lực vô cùng to lớn để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội tại đất nước tagiúp cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng tốt đảm bảo đời sống của người dân  cộng đồng sinh sống tại nước ta. Qua các khảo sát cũng như nghiên cứu qua lý thuyết & thực tế từ năm 1995 cho đến nay đã khẳng định rằng đầu tư công có vai trò hơn thế nữa quan trọng đến sự phát triển của Việt Nam.

Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế  bản chất của các mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý thuyết  thực nghiệm.

Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư tư nhân & đầu tư công, theo đấy đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được dùng trong các công ty.

Kết cấu hạ tầng là vốn hiện hữu bên ngoài doanh nghiệp & hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng giống như các hoạt động của các cá nhân.

Do vậy, nhiều công ty  cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm số tiền bỏ ra hoặc ít nhất với chi phí rẻ hơn nếu kết cấu hạ tầng đấy phải được cung cấp cho người dùng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như mang đến các lợi ích ngoại lai cho những người dùng đó.

Tại Việt Nam, Luật Đầu tư công được ban hành vào năm 2014, trong số đó có định nghĩa đầu tư công không gồm có nguồn vốn của các công ty thuộc quyền sở hữu nhà nước, đầu tư công chiếm tỷ trọng khổng lồ nhất trong tổng đầu tư & đóng vai trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trưởng của đầu tư nói chung.

Trong giai đoạn 1995-2013, đầu tư công chiếm 40% tổng đầu tư, cao gấp đôi tỷ trọng FDI & đầu tư tư nhân. Sau khi giảm nhẹ trong năm 2010, năm 2011 tỷ trọng đầu tư công đã phục hồi đạt mức cao của năm 2009 (40,4% tổng kinh phí đầu tư).

Tốc độ tăng trưởng 7,5% trong năm 2013 cũng tương quan mạnh mẽ với mức tăng trưởng đầu tư 7,3% của năm đấy. Bất chấp sự tăng trưởng nhanh chóng này, cơ cấu đầu tư công vẫn được coi là có vấn đề ở chỗ là nó quá tập trung vào công ty nhà nước. Do vậy, có hiện tượng chèn ép đầu tư tư nhân & ít hấp dẫn được những loại hình đầu tư khác.

4. Một vài phương án giúp hoạt động đầu tư công hiệu quả

bao-hiem-lien-ket-dau-tu

Chính phủ chưa có cơ chế giám sát khắn khít đối với hoạt động của các DNNN, đặc biệt là đối với việc đầu tư. Vốn đầu tư của các DNNN được coi là “tự chủ” của doanh nghiệp, nên quy trình kiểm tra, làm chủ chưa cao. Các Bộ cũng không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh của các DNNN. Quy trình cổ phần hóa cũng tiến triển chậm, nên sự giám sát các DNNN cũng chưa chặt chẽ.

Nhiều DNNN vay nợ lớn để mở rộng quy mô, đầu tư dàn trải vào tất cả lĩnh vực, nhiều ngành nghề, phát triển các hoạt động ngoài ngành nghề chính, độc quyền & có năng lực lũng đoạn thị trường, quản lý kém gây thất thoát vốn, bán hàng thua lỗ, sử dụng chưa hiệu quả số tiền đầu tư.

Trong đó, tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công luôn thu hút được mong muốn thực tế của nhiều tầng lớp trong xã hội. Vấn đề tái cấu trúc đầu tư công luôn gắn với việc nâng cao hiệu quả đầu tư là việc làm quan trọng không chỉ nhằm kiềm chế lạm phát mà vấn đề thiết yếu hơn là góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng & khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân.

Bởi vậy, việc nhận định nhiệm vụ của đầu tư công tại nước ta là cần thiết.

Xem thêm: Đầu tư lướt sóng là gì? Kinh nghiệm lướt sóng bất bại 2022

TÌM HIỂU THÊM HÌNH THỨC ĐẦU TƯ SINH LỜI TẠI ĐÂY:

(*) Thông tin của bạn sẽ được bảo mật

Baner Dau Tu



    Xác nhận tìm hiểu thông tin (*)

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.